Trang chủ / Thông tin y học

Tế bào gốc trưởng thành là gì? Phân loại, ứng dụng

Tế bào gốc là một nhóm tế bào có chức năng tự làm mới và biệt hóa. Tế bào gốc trưởng thành hay còn gọi là tế bào gốc soma có vai trò quan trọng trong quá trình làm lành vết thương và tái tạo tế bào. Vậy tế bào gốc trưởng thành là gì và có những ứng dụng nào? Hãy cùng Premium Therapy tìm hiểu qua bài viết này ngay nhé!

Tế bào gốc trưởng thành là gì?

Tế bào gốc trưởng thành là một nhóm tế bào chưa biệt hóa được tìm thấy ở các mô và cơ quan trong cơ thể. Tế bào gốc trưởng thành có khả năng tự làm mới và biệt hóa thành các loại tế bào chuyên hóa – tham gia vào quá trình sửa chữa tổn thương ở các mô, tái tạo và duy trì chức năng của các cơ quan bên trong cơ thể [1].

Tế bào gốc trưởng thành là gì?

Tế bào gốc trưởng thành tìm thấy ở đâu?

Tế bào gốc trưởng thành được tìm thấy ở nhiều loại mô và cơ quan chuyên biệt trong cơ thể như tủy xương, mô mỡ, mô cơ, mô sụn, máu ngoại vi,… [2].

Nhờ tiềm năng biệt hóa đa dạng – khả năng phân chia thành nhiều loại tế bào đa dạng có liên hệ với mô cơ quan mà chúng được tìm thấy, khả năng di cư đến mô cơ quan bị tổn thương, khả năng tái tạo, điều hòa miễn dịch, tính an toàn cao – không sinh ung thư, dễ dàng phân lập và khả năng ứng dụng cho cấy ghép tự thân – giảm thiểu nguy cơ thải loại, tế bào gốc trưởng thành được quan tâm rộng rãi, đặc biệt trong nghiên cứu và ứng dụng liên quan đến y sinh học tái tạo [3, 4, 5].

Các loại tế bào gốc trưởng thành phổ biến

Dựa trên nguồn gốc và mô tìm thấy, tế bào gốc trưởng thành được chia thành nhiều loại: tế bào gốc tạo máu, tế bào gốc trung mô, tế bào gốc da, tế bào gốc thần kinh, tế bào gốc gan, tế bào gốc tim,… [6]. Các loại tế bào gốc trưởng thành phổ biến gồm:

Tế bào gốc tạo máu

Tế bào gốc tạo máu là một trong những loại tế bào gốc được xác định và định danh đầu tiên, bởi Till và McCullough năm 1961, và ứng dụng đầu tiên bởi Thomas và Blune năm 1999 – là nguồn cảm hứng cho các nghiên cứu về tế bào gốc tiếp theo [5].

Tế bào gốc tạo máu có thể được tìm thấy và phân lập từ máu ngoại vi, tủy xương, dây cuống rốn,… [7].

  • Tế bào gốc tạo máu có khả năng tự làm mới – phân chia tái tạo trở lại các tế bào gốc tạo máu hoặc hình thành nên các tế bào tiền thân dòng tủy và dòng lympho – chịu trách nhiệm sản sinh ra tất cả các loại tế bào máu [5].
  • Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng ghi nhận khả năng thúc đẩy sự hình thành các tế bào thuộc các mô và hệ cơ quan ngoài máu của tế bào gốc tạo máu – tế bào gan [8], mô tim và mô cơ [9], các tế bào tương tự với tế bào thần kinh [10],…
  • Ngoài ra, một nghiên cứu trên động vật còn phát hiện ra khả năng hình thành hầu hết các loại tế bào thuộc ba lớp mầm phôi – các tế bào biểu mô của phổi, dạ dày là các cơ quan thuộc lớp nội bì của phôi; tế bào da thuộc lớp ngoại bì và tế bào máu thuộc lớp trung bì của tế bào gốc tạo máu [11].

Thông qua đó, tế bào gốc tạo máu được kỳ vọng có thể mang lại nhiều ứng dụng rộng rãi cho nền y học tái tạo bởi tiềm năng biệt hóa đa năng và tiềm năng tăng sinh nhiều loại tế bào thuộc ba lớp mầm phôi [5].

Tế bào gốc trưởng thành tìm thấy ở đâu?

Tế bào gốc trung mô 

Tế bào gốc trung mô là loại tế bào gốc được ứng dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu. Được phát hiện và ứng dụng từ những năm cuối thế kỉ 19 và định danh vào thế kỉ 20, đến nay, số lượng nghiên cứu về tế bào gốc trung mô đã vượt trên 55.000 bài và hơn 900 thử nghiệm lâm sàng [12, 13].

Tế bào gốc trung mô là chiến lược được ứng dụng rộng rãi trong các liệu pháp y sinh học tái tạo và chữa lành vết thương [14]:

  • Tế bào gốc trung mô có khả năng biệt hóa đa năng, khả năng tự làm mới, dễ tăng sinh và điều hòa miễn dịch [14, 15].
  • Tế bào gốc trung mô có khả năng di chuyển tới vị trí bị tổn thương, giải phóng các phân tử tín hiệu, các yếu tố tăng trưởng và túi tiết ngoại bào để thông báo cho những tế bào xung quanh, thúc đẩy sự tăng sinh tế bào và sự tái tạo các mô cơ quan bị tổn thương [14, 15].
  • Bên cạnh đó, tế bào gốc trung mô cho thấy khả năng kích ứng miễn dịch thấp, dễ dàng ứng dụng trong cấy ghép tế bào gốc đồng loài mà không cần thực hiện các biện pháp làm suy giảm miễn dịch trước đó  [14].
  • Tế bào gốc trung mô thường được tìm thấy ở các mô liên kết như mô mỡ, tủy xương, máu ngoại vi, cuống rốn,… [16].
  • Ngoài ra, tế bào gốc trung mô còn được ưa chuộng bởi mức độ an toàn cao, không gây nên các tác dụng phụ gây hại sau thời gian thử nghiệm trung hạn – 1-5 năm và khả năng ứng dụng rộng rãi trong điều trị nhiều tình trạng sức khỏe khác nhau [14].

Hiện nay, tế bào gốc trung mô được ứng dụng trong điều trị nhiều bệnh lý khác nhau gồm các bệnh tim mạch, bệnh tự miễn, bệnh về gan, các tổn thương về xương khớp, thải ghép cấp tính sau ghép tủy,… [14].

Các nghiên cứu về tế bào gốc trung mô vẫn đang tiếp tục được triển khai thực hiện để giải quyết các vấn đề về y tế trên toàn thế giới [13].

Tế bào gốc da

Da là hàng rào bảo vệ đầu tiên của cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh. Các tế bào gốc da được tìm thấy ở tầng đáy của lớp biểu bì, tại các vị trí nang lông, biểu bì kẽ nang lông, tuyến bã nhờn,…hiện diện trên lớp đáy biểu bì [7, 17]. Nhiệm vụ chính của các tế bào gốc da là tăng sinh, thay thế và tái tạo các tế bào da bị mất đi, tổn thương, hoặc mất chức năng [17].

Tế bào gốc thần kinh

Các tế bào gốc thần kinh được tìm thấy ở các tế bào thần kinh đệm hình sao và các tế bào ống nội tủy [7]. Tế bào gốc thần kinh là các tế bào gốc của hệ thần kinh – chịu trách nhiệm tăng sinh và có vai trò quan trọng trong sự tái tạo của hệ thần kinh [18].

Tế bào gốc biểu mô 

Biểu mô là lớp màng liên tục các tế bào gắn kết chặt chẽ cấu thành nên lớp niêm mạc của các mô và hệ cơ quan [19]. Không chỉ đóng vai trò như một hàng rào bảo vệ khỏi môi trường bên ngoài, các tế bào biểu mô còn có chức năng điều hòa sự hấp thu nước và chất dinh dưỡng và sự giải phóng chất tiết từ các tuyến nội tiết [19].

Sự chết đi và thay thế liên tục của các tế bào thuộc lớp biểu mô diễn ra xuyên suốt quá trình sống của cơ thể – được gọi là cân bằng nội môi trong mô [19]. Các tế bào gốc biểu mô tham gia vào quá trình hình thành nên các tế bào tăng sinh có chức năng phân chia chủ động trong một khoảng thời gian giới hạn, làm dồi dào hơn nguồn dự trữ tế bào có khả năng biệt hóa thành các dòng tế bào chuyên biệt hình thành và tái tạo mô [19].

Ứng dụng của tế bào gốc trưởng thành

Nhờ tiềm năng biệt hóa đa năng, chức năng điều hòa miễn dịch, tính an toàn cao, khả năng kích ứng miễn dịch thấp, không gây ung thư các tế bào gốc trưởng thành có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực y sinh học, đặc biệt trong y sinh học tái tạo bằng nhiều phương pháp cấy ghép tế bào gốc trưởng thành khác nhau.

Ứng dụng của tế bào gốc trưởng thành

Điều trị các loại bệnh lý

Tiềm năng và khả năng ứng dụng trong điều trị nhiều loại bệnh lý khác nhau là một trong những ứng dụng và thành tựu nổi bật nhất dựa trên những nghiên cứu về tế bào gốc. Các loại bệnh lý được nghiên cứu điều trị bằng các tế bào gốc trưởng thành gồm [20]:

  • Bệnh tim mạch: các nghiên cứu lâm sàng ứng dụng cấy ghép tế bào gốc trưởng thành trong điều trị các bệnh về tim mạch cho thấy hiệu quả và mức độ an toàn của liệu pháp tế bào gốc trong điều trị các bệnh suy tim [21], hỗ trợ điều trị bệnh nhân mắc cơ tim thiếu máu cục bộ [22],…
  • Bệnh thoái hóa thần kinh: các nghiên cứu lâm sàng cho thấy mức độ hiệu quả, an toàn, và khả thi trong hỗ trợ điều trị hội chứng thoái hóa thần kinh Alzheimer [23].
  • Chấn thương tủy sống: liệu pháp tế bào gốc cá nhân hóa ứng dụng trong nghiên cứu lâm sàng về hỗ trợ điều trị chứng liệt nửa người mãn tính cho thấy mức độ an toàn, tính khả thi và khả năng hiệu quả cải thiện rõ rệt. Thử nghiệm cho thấy sự cải thiện về độ nhạy cảm, giảm nhẹ tình trạng co giật và cứng cơ, tăng cường hoạt động của cơ [24],…
  • Ung thư: tế bào gốc trưởng thành cho thấy tiềm năng ứng dụng trong các liệu pháp hỗ trợ điều trị ung thư nhờ khả năng tái tạo mô cơ quan, sửa chữa tổn thương và đặc biệt là khả năng định hướng vị trí khối u [25]. Thử nghiệm lâm sàng về cấy ghép tế bào gốc trưởng thành cho thấy mức độ an toàn và tính khả thi của tế bào gốc trong hỗ trợ điều trị và ngăn ngừa tiến triển của ung thư vú so với phương pháp hóa trị thông thường [26],…
  • Các rối loạn về cơ xương khớp: các thử nghiệm lâm sàng về cấy ghép tế bào gốc trưởng thành tự thân và đồng loài có nguồn gốc từ mô mỡ và cuống rốn cho thấy hiệu quả và mức độ an toàn trong điều trị và ngăn ngừa tiến triển bệnh của tình trạng viêm khớp gối và khả năng tái tạo sụn khớp trong các bệnh nhân viêm khớp hiệu quả [27, 28],…

Hỗ trợ tìm hiểu cơ chế bệnh lý

Hiện nay, nghiên cứu về ứng dụng tế bào gốc trong tìm hiểu cơ chế bệnh lý. Khả năng tăng sinh và biệt hóa của tế bào gốc người cho phép ứng dụng trong xây dựng mô hình bệnh lý dựa trên tế bào gốc có liên hệ với lâm sàng hơn để nghiên cứu nguyên nhân, bệnh lý và cơ chế của một số bệnh, hỗ trợ phát triển các chiến lược điều trị hiệu quả và hợp lý. Đến nay, tế bào gốc được sử dụng rộng rãi trong mô hình hóa và tìm hiểu nhiều bệnh lý do di truyền, chấn thương, lão hóa và các tác nhân từ môi trường như thuốc, virus và đường huyết cao [29].

Thử nghiệm các loại thuốc mới

Tế bào gốc trung mô phân lập từ tủy xương có tiềm năng ứng dụng cao trong hỗ trợ sàng lọc và thử nghiệm thuốc thông lượng cao nhờ khả năng biệt hóa đa năng thành các tế bào thần kinh, mỡ, sụn và xương,… và  ứng dụng cho các chương trình phát triển thuốc – tiểu đường, ung thư, béo phì và các rối loạn về thần kinh trung ương hoặc thần kinh ngoại biên [30].

Tổng kết

Nhờ vào khả năng ứng dụng cao và mức độ an toàn nổi trội, các liệu pháp y sinh học mới về tế bào gốc, đặc biệt là tế bào gốc trưởng thành ngày càng được ứng dụng và phát triển mạnh mẽ. Không chỉ được tìm thấy tại nhiều cơ quan trong cơ thể, các phương pháp ghép tế bào gốc trưởng thành tự thân hay đồng loài còn có thể thực hiện mà không cần ức chế chức năng của hệ miễn dịch, giúp tăng mức độ an toàn và khả năng ứng dụng cho nhiều đối tượng. Những liệu pháp về tế bào tiếp tục được nghiên cứu phát triển tại nhiều quốc gia và ứng dụng trong điều trị và nghiên cứu nhiều loại bệnh lý. Việc nghiên cứu kỹ phương pháp nhằm chọn lựa liệu pháp phù hợp là vô cùng quan trọng trong điều trị bệnh lý của từng cá nhân.

Premium Therapy – đại diện các Trung tâm trị liệu & Bệnh viện uy tín hàng đầu CHLB Đức tại Đông Dương. Nếu quý khách hàng có nhu cầu tìm hiểu thêm về liệu pháp tế bào gốc hay các dịch vụ trị liệu y tế cao cấp tại CHLB Đức, vui lòng liên hệ Hotline 09 119 10 119 hoặc đăng ký tại đây để được hỗ trợ chi tiết nhất.

CÔNG TY CP PREMIUM THERAPY – Đại diện các Trung tâm trị liệu & Bệnh viện uy tín hàng đầu CHLB Đức tại Đông Dương:

Nguồn tham khảo

  1. Gurusamy, N., Alsayari, A., Rajasingh, S., & Rajasingh, J. (2018). Chapter One—Adult Stem Cells for Regenerative Therapy. In D. B. Teplow (Ed.), Progress in Molecular Biology and Translational Science (Vol. 160, pp. 1–22). Academic Press. https://doi.org/10.1016/bs.pmbts.2018.07.009
  2. Pelacho, B., Mazo, M., Gavira, J. J., & Prósper, F. (2011). Adult stem cells: from new cell sources to changes in methodology. Journal of cardiovascular translational research, 4(2), 154–160. https://doi.org/10.1007/s12265-010-9245-z
  3. Beane, O. S., & Darling, E. M. (2012). Isolation, Characterization, and Differentiation of Stem Cells for Cartilage Regeneration. Annals of Biomedical Engineering, 40(10), 2079–2097. https://doi.org/10.1007/s10439-012-0639-8
  4. Moradi, S. lotfalah, Mahmoodinia Maymand, M., & Ardeshirylajimi, A. (2022). Chapter 18—Application of induced pluripotent stem cells in tissue engineering. In A. Birbrair (Ed.), Current Topics in iPSCs Technology (Vol. 17, pp. 483–505). Academic Press. https://doi.org/10.1016/B978-0-323-99892-5.00010-4
  5. Research, N. R. C. (US) and I. of M. (US) C. on the B. and B. A. of S. C. (2002). Adult Stem Cells. In Stem Cells and the Future of Regenerative Medicine. National Academies Press (US). https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK223693/
  6. Arrighi, N. (2018). 5 – Bioethics: Regulatory Framework for Human Stem Cells. In N. Arrighi (Ed.), Stem Cells (pp. 127–153). Elsevier. https://doi.org/10.1016/B978-1-78548-254-0.50005-7
  7. Moradi, S. lotfalah, Mahmoodinia Maymand, M., & Ardeshirylajimi, A. (2022). Chapter 18—Application of induced pluripotent stem cells in tissue engineering. In A. Birbrair (Ed.), Current Topics in iPSCs Technology (Vol. 17, pp. 483–505). Academic Press. https://doi.org/10.1016/B978-0-323-99892-5.00010-4
  8. Lagasse, E., Connors, H., Al-Dhalimy, M., Reitsma, M., Dohse, M., Osborne, L., Wang, X., Finegold, M., Weissman, I. L., & Grompe, M. (2000). Purified hematopoietic stem cells can differentiate into hepatocytes in vivo. Nature medicine, 6(11), 1229–1234. https://doi.org/10.1038/81326
  9. Bittner, R. E., Schöfer, C., Weipoltshammer, K., Ivanova, S., Streubel, B., Hauser, E., Freilinger, M., Höger, H., Elbe-Bürger, A., & Wachtler, F. (1999). Recruitment of bone-marrow-derived cells by skeletal and cardiac muscle in adult dystrophic mdx mice. Anatomy and embryology, 199(5), 391–396. https://doi.org/10.1007/s004290050237
  10. Brazelton, T. R., Rossi, F. M., Keshet, G. I., & Blau, H. M. (2000). From marrow to brain: expression of neuronal phenotypes in adult mice. Science (New York, N.Y.), 290(5497), 1775–1779. https://doi.org/10.1126/science.290.5497.1775
  11. Rotter, N., Oder, J., Schlenke, P., Lindner, U., Böhrnsen, F., Kramer, J., Rohwedel, J., Huss, R., Brandau, S., Wollenberg, B., & Lang, S. (2008). Isolation and characterization of adult stem cells from human salivary glands. Stem cells and development, 17(3), 509–518. https://doi.org/10.1089/scd.2007.0180
  12. Bianco, P., Robey, P. G., & Simmons, P. J. (2008). Mesenchymal stem cells: revisiting history, concepts, and assays. Cell stem cell, 2(4), 313–319. https://doi.org/10.1016/j.stem.2008.03.002
  13. Pittenger, M. F., Discher, D. E., Péault, B. M., Phinney, D. G., Hare, J. M., & Caplan, A. I. (2019). Mesenchymal stem cell perspective: cell biology to clinical progress. NPJ Regenerative medicine, 4, 22. https://doi.org/10.1038/s41536-019-0083-6
  14. Pînzariu, A. C., Moscalu, R., Soroceanu, R. P., Maranduca, M. A., Drochioi, I. C., Vlasceanu, V. I., Timofeiov, S., Timofte, D. V., Huzum, B., Moscalu, M., Serban, D. N., & Serban, I. L. (2025). The Therapeutic Use and Potential of MSCs: Advances in Regenerative Medicine. International Journal of Molecular Sciences, 26(7), 3084. https://doi.org/10.3390/ijms26073084
  15.  Liang, X., Ding, Y., Zhang, Y., Tse, H. F., & Lian, Q. (2014). Paracrine mechanisms of mesenchymal stem cell-based therapy: current status and perspectives. Cell transplantation, 23(9), 1045–1059. https://doi.org/10.3727/096368913X667709
  16. Hass, R., Kasper, C., Böhm, S., & Jacobs, R. (2011). Different populations and sources of human mesenchymal stem cells (MSC): A comparison of adult and neonatal tissue-derived MSC. Cell Communication and Signaling : CCS, 9, 12. https://doi.org/10.1186/1478-811X-9-12
  17. Díaz-García, D., Filipová, A., Garza-Veloz, I., & Martinez-Fierro, M. L. (2021). A Beginner’s Introduction to Skin Stem Cells and Wound Healing. International journal of molecular sciences, 22(20), 11030. https://doi.org/10.3390/ijms222011030
  18. Zhao, X., & Moore, D. L. (2018). Neural stem cells: developmental mechanisms and disease modeling. Cell and tissue research, 371(1), 1–6. https://doi.org/10.1007/s00441-017-2738-1
  19. Blanpain, C., Horsley, V., & Fuchs, E. (2007). Epithelial stem cells: turning over new leaves. Cell, 128(3), 445–458. https://doi.org/10.1016/j.cell.2007.01.014
  20. Hussen, B. M., Taheri, M., Yashooa, R. K., Abdullah, G. H., Abdullah, S. R., Kheder, R. K., & Mustafa, S. A. (2024). Revolutionizing medicine: recent developments and future prospects in stem-cell therapy. International journal of surgery (London, England), 110(12), 8002–8024. https://doi.org/10.1097/JS9.0000000000002109
  21. Bartolucci, J., Verdugo, F. J., González, P. L., Larrea, R. E., Abarzua, E., Goset, C., Rojo, P., Palma, I., Lamich, R., Pedreros, P. A., Valdivia, G., Lopez, V. M., Nazzal, C., Alcayaga-Miranda, F., Cuenca, J., Brobeck, M. J., Patel, A. N., Figueroa, F. E., & Khoury, M. (2017). Safety and Efficacy of the Intravenous Infusion of Umbilical Cord Mesenchymal Stem Cells in Patients With Heart Failure: A Phase 1/2 Randomized Controlled Trial (RIMECARD Trial [Randomized Clinical Trial of Intravenous Infusion Umbilical Cord Mesenchymal Stem Cells on Cardiopathy]). Circulation research, 121(10), 1192–1204. https://doi.org/10.1161/CIRCRESAHA.117.310712
  22. Noiseux, N., Mansour, S., Weisel, R., Stevens, L. M., Der Sarkissian, S., Tsang, K., Crean, A. M., Larose, E., Li, S. H., Wintersperger, B., Vu, M. Q., Prieto, I., Li, R. K., Roy, D. C., & Yau, T. M. (2016). The IMPACT-CABG trial: A multicenter, randomized clinical trial of CD133+ stem cell therapy during coronary artery bypass grafting for ischemic cardiomyopathy. The Journal of thoracic and cardiovascular surgery, 152(6), 1582–1588.e2. https://doi.org/10.1016/j.jtcvs.2016.07.067
  23. Kim, H. J., Seo, S. W., Chang, J. W., Lee, J. I., Kim, C. H., Chin, J., Choi, S. J., Kwon, H., Yun, H. J., Lee, J. M., Kim, S. T., Choe, Y. S., Lee, K. H., & Na, D. L. (2015). Stereotactic brain injection of human umbilical cord blood mesenchymal stem cells in patients with Alzheimer’s disease dementia: A phase 1 clinical trial. Alzheimer’s & dementia (New York, N. Y.), 1(2), 95–102. https://doi.org/10.1016/j.trci.2015.06.007
  24. Vaquero, J., Zurita, M., Rico, M. A., Bonilla, C., Aguayo, C., Montilla, J., Bustamante, S., Carballido, J., Marin, E., Martinez, F., Parajon, A., Fernandez, C., Reina, L., & Neurological Cell Therapy Group (2016). An approach to personalized cell therapy in chronic complete paraplegia: The Puerta de Hierro phase I/II clinical trial. Cytotherapy, 18(8), 1025–1036. https://doi.org/10.1016/j.jcyt.2016.05.003
  25. Choi, Y., Lee, H. K., & Choi, K. C. (2023). Engineered adult stem cells: a promising tool for anti-cancer therapy. BMB reports, 56(2), 71–77. https://doi.org/10.5483/BMBRep.2022-0091
  26. Steenbruggen, T. G., Steggink, L. C., Seynaeve, C. M., van der Hoeven, J. J. M., Hooning, M. J., Jager, A., Konings, I. R., Kroep, J. R., Smit, W. M., Tjan-Heijnen, V. C. G., van der Wall, E., Bins, A. D., Linn, S. C., Schaapveld, M., Jacobse, J. N., van Leeuwen, F. E., Schröder, C. P., van Tinteren, H., de Vries, E. G. E., Sonke, G. S., … Gietema, J. A. (2020). High-Dose Chemotherapy With Hematopoietic Stem Cell Transplant in Patients With High-Risk Breast Cancer and 4 or More Involved Axillary Lymph Nodes: 20-Year Follow-up of a Phase 3 Randomized Clinical Trial. JAMA oncology, 6(4), 528–534. https://doi.org/10.1001/jamaoncol.2019.6276
  27. Freitag, J., Bates, D., Wickham, J., Shah, K., Huguenin, L., Tenen, A., Paterson, K., & Boyd, R. (2019). Adipose-derived mesenchymal stem cell therapy in the treatment of knee osteoarthritis: a randomized controlled trial. Regenerative medicine, 14(3), 213–230. https://doi.org/10.2217/rme-2018-0161
  28. Park, Y. B., Ha, C. W., Lee, C. H., Yoon, Y. C., & Park, Y. G. (2017). Cartilage Regeneration in Osteoarthritic Patients by a Composite of Allogeneic Umbilical Cord Blood-Derived Mesenchymal Stem Cells and Hyaluronate Hydrogel: Results from a Clinical Trial for Safety and Proof-of-Concept with 7 Years of Extended Follow-Up. Stem cells translational medicine, 6(2), 613–621. https://doi.org/10.5966/sctm.2016-0157
  29. Bai X. (2020). Stem Cell-Based Disease Modeling and Cell Therapy. Cells, 9(10), 2193. https://doi.org/10.3390/cells9102193
  30. Kitambi, S. S., & Chandrasekar, G. (2011). Stem cells: a model for screening, discovery and development of drugs. Stem cells and cloning: advances and applications, 4, 51–59. https://doi.org/10.2147/SCCAA.S16417

M.Sc Đàm Trang

Tôi là CEO của Premium Therapy, với hơn 11 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực y tế. Tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học Sinh học tại Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM, tôi cũng sở hữu các chứng chỉ quốc tế về Đa dạng sinh học (CNRS – Pháp) và Sinh học phân tử (ĐH Tsukuba – Nhật Bản). Sau 2 năm nghiên cứu tại Viện Sinh học Nhiệt đới ITB, tôi chuyên sâu vào lĩnh vực Y tế bào gốc và đã tham gia nhiều dự án nghiên cứu khoa học. Với sứ mệnh mang đến giải pháp y tế bền vững và hiệu quả, tôi luôn chia sẻ kiến thức của mình để cải thiện sức khỏe cộng đồng.

Xem thêm