Trang chủ / Thông tin y học

Bệnh Lyme là gì? Dấu hiệu và cách ngăn ngừa và phòng chống bệnh Lyme

Bệnh Lyme là gì? Bệnh Lyme có triệu chứng như thế nào? Bệnh Lyme có nguy hiểm không? Bệnh Lyme có phổ biến ở Việt Nam không? Cách nào để ngăn ngừa bệnh Lyme không? Đó chắc hẳn là một trong những câu hỏi phổ biến nhất khi tìm hiểu về bệnh. Sau đây, hãy cùng Premium Therapy tham khảo những kiến thức bổ ích từ những nghiên cứu của chuyên gia về bệnh Lyme, cũng như những đúc kết quan trọng để tăng cường sức khỏe và khả năng phòng chống bệnh Lyme.

Bệnh Lyme là gì?

Bệnh Lyme được phát hiện lần đầu vào năm 1975 và được phát hiện trên một số trẻ em vùng Lyme ở bang Connecticut. Vào năm 1981, bệnh Lyme được xác định là được gây ra bởi vi khuẩn Borrelia burgdorferi.

Theo báo cáo Tổng của cẩm nang MSD Manual năm 2025, bệnh Lyme được ghi nhận là căn bệnh do ve lây truyền phổ biến nhất tại Hoa Kỳ. Một cách ngắn gọn, bệnh Lyme là bệnh do vi khuẩn Borrelia burgdorferi gây ra do vật trung gian truyền bệnh là ve.

Bệnh Lyme là gì?
Bệnh Lyme là gì?

Dựa trên nghiên cứu, ve là loài có khả năng mang nhiều mầm bệnh, dựa trên nghiên cứu về dịch tễ, vi khuẩn Borrelia burgdorferi được truyền từ ve trưởng thành sang vật chủ qua vết cắn. Mầm bệnh trong cơ thể vật chủ mang mầm bệnh sẽ tiếp tục lây truyền qua ve trưởng thành sau khi ve hút máu vật chủ mang mầm bệnh và sau đó lây truyền sang vật chủ tiếp theo qua con đường tương tự.

Triệu chứng của bệnh Lyme

Dấu hiệu đặc trưng nhất của bệnh Lyme là vết ban đỏ xuất hiện tại vị trí vết cắn kèm theo các triệu chứng tương tự với các triệu chứng cúm như đau đầu, sưng tấy, đau cơ và sốt dọc các vị trí đau.

Dựa theo các khảo sát, các triệu chứng về bệnh Lyme có thể được phân thành 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn tại chỗ sớm (giai đoạn I)
  • Giai đoạn phân tán sớm (giai đoạn II)
  • Giai đoạn cuối (giai đoạn III)

Triệu chứng của bệnh Lyme

Giai đoạn tại chỗ sớm (giai đoạn I)

Giai đoạn tại chỗ sớm được đặc trưng bởi các vết loang đỏ xuất hiện trên da trong khoảng từ 1 đến 30 ngày sau khi bị cắn. Theo khảo sát, chỉ 14-32% người bị cắn nhớ đã từng bị ve cắn và đến 75% không hề phát hiện đã bị cắn bởi ve.

Theo nghiên cứu, vết ban đỏ có thể xuất hiện trong giai đoạn 1 đến 30 ngày sau khi xoắn khuẩn bắt đầu làm xâm nhiễm. Theo khảo sát, vết ban đỏ có thể có đường kính từ 10-16 cm. Trường hợp dài nhất có thể ghi nhận đường kính dài 50 cm.

Dựa theo nghiên cứu, vết ban đỏ do bệnh Lyme gây ra có đặc trưng là vòng tròn dạng khuyên tạo khoảng trống trong hoặc bao quanh tâm điểm vết ban. Vết ban  có thể có dạng hình bầu dục hoặc tròn và có thể trở nên ấm nhẹ khi chạm. Bên cạnh đó, vết ban đỏ cũng có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào mà ve có khả năng cắn được, chẳng hạn như vai, lưng, đùi, vùng bẹn hoặc vùng dưới cánh tay.

Giai đoạn phân tán sớm (giai đoạn II)

Theo nghiên cứu, trong khoảng thời gian rất ngắn sau khi vết ban đầu tiên xuất hiện, giai đoạn phân tán sớm (giai đoạn II) bắt đầu khi xoắn khuẩn Borrelia xâm nhập vào đường máu.

Dựa trên nghiên cứu, các triệu chứng tương tự bệnh cúm thông thường như đau đầu, ớn lạnh, và sốt cũng có thể xảy ra trong giai đoạn phát ban. Tuy nhiên, các triệu chứng khác của cảm cúm liên quan đến đường hô hấp và tiêu hóa lại hiếm xảy ra và thường không xuất hiện ở người nhiễm vi khuẩn gây Lyme.

Bên cạnh sốt, một trong những dấu hiệu đặc trưng của bệnh là sưng to các hạch bạch huyết và ban đỏ gây khó chịu ở cổ. Theo báo cáo, những bất thường về thần kinh cũng xuất hiện và phân bố ở ít hơn ⅕ số người nhiễm vi khuẩn gây Lyme. Dựa theo nghiên cứu, một số tình trạng như viêm màng não, viêm dây thần kinh sọ (cranial nerve inflammation), hay một số bất thường trong hoạt động của dây thần kinh cảm giác hoặc dây thần kinh vận động cũng được ghi nhận.

Giai đoạn muộn (giai đoạn III)

Dựa theo nghiên cứu, những biểu hiện lâm sàng của giai đoạn III (hay giai đoạn muộn) của bệnh Lyme có thể xuất hiện sau khoảng thời gian từ vài tháng đến vài năm, kể từ lần đầu tiên nhiễm khuẩn.

Cũng dựa theo nghiên cứu, một trong những biểu hiện chính ở tình trạng này ghi nhận sự xuất hiện của viêm khớp do Lyme (Lyme arthritis) tương đồng với biểu hiện phát hiện ở những ca phát hiện bệnh Lyme đầu tiên. Dựa trên nghiên cứu, tình trạng  viêm khớp do Lyme đặc trưng bởi những cơn đau gián đoạn ở khớp hoặc tình trạng sưng khớp cũng được ghi nhận ở khoảng hơn 60% những trường hợp mắc vi khuẩn gây bệnh.

Dựa theo ghi nhận từ nghiên cứu, tình trạng viêm khớp tập trung chủ yếu ở khớp gối. Tuy nhiên, các trường hợp chỉ xuất hiện viêm tập trung tại các điểm quanh khớp (periarticular foci) như gân hoặc các túi dịch (bursae) cũng được ghi nhận. Dựa trên nghiên cứu, điều này có thể được lý giải bởi quá trình xâm nhiễm tập trung chủ yếu của vi khuẩn Borrelia vào các khớp xương và các vùng xung quanh.

Cũng trích từ kết quả nghiên cứu, tình trạng viêm da đầu mạn tính teo cơ (Acrodermatitis chronica atrophicans) cũng là một trong những dấu hiệu phổ biến ở những trường hợp nhiễm bệnh Lyme. Dựa theo nghiên cứu, tình trạng da liễu này có thể xuất hiện sau vài năm kể từ khi tình trạng phát ban bắt đầu suy giảm.

Dựa theo nghiên cứu, tình trạng này có thể là kết quả của quá trình tổn thương lâu dài gây nên bởi tình trạng nhiễm trùng mãn tính. Dựa trên kết quả nghiên cứu, các vùng ban tím đỏ có thể dần trở nên xơ và cuối cùng dẫn đến tình trạng teo cơ (atrophic).

Bên cạnh đó, theo nghiên cứu, các bệnh lý như đa dây thần kinh sợi trục mạn tính (chronic axonal polyneuropathy), đau rễ thần kinh (radicular pain), cảm giác kiến bò (paresthesias), viêm não tủy mạn tính (Chronic encephalomyelitis) hay rối loạn nhận thức nhẹ cũng  được ghi nhận ở các trường hợp nhiễm bệnh Lyme giai đoạn muộn.

Bệnh Lyme có nguy hiểm không?

Dựa trên cấu trúc phân tử, Borrelia burgdorferi là vi khuẩn Gram-âm không mang gen mã hóa lipopolysaccharide (LPS). Thay vào đó, các lipoprotein là tác nhân kích ứng miễn dịch chính và nguyên nhân chính cho sự lây truyền từ ve sang vật chủ.

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các protein chịu trách nhiệm cho khả năng bám dính và hấp phụ của vi khuẩn B. burgdorferi gây Lyme trong ruột cơ thể ve và khả năng di cư của vi khuẩn B. burgdorferi từ ruột vào tuyến nước bọt và truyền sang vật chủ trong quá trình cắn.

Không những thế, lipoprotein còn chịu trách nhiệm cho khả năng sống sót của ve trong cơ thể vật chủ. Tương đồng với các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn gây ra khác, xoắn khuẩn B. burgdorferi gây bệnh Lyme khi vượt qua hàng rào miễn dịch dịch thể có khả năng thâm nhập vào đường máu và đi đến các mô xung quanh, gây nên các bệnh lý nghiêm trọng cho các cơ quan và hệ cơ quan quan trọng như tim và hệ thần kinh.

Dựa trên kết quả nghiên cứu, phản ứng viêm kéo dài ngay cả khi không còn tác nhân cụ thể là nguồn gốc của các bệnh nghiêm trọng như viêm khớp do Lyme, viêm màng tim, và sốt hồi quy,… và có thể được gọi chung là rối loạn Lyme.

Bệnh Lyme có nguy hiểm không?

Bệnh Lyme có phổ biến ở Việt Nam không?

Dựa trên nghiên cứu khảo sát của Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng học Quốc gia, tại Việt Nam, có tổng cộng 81 loài ve phân bố ở khắp các các địa phương. Trong đó, phổ biến nhất là 2 loài Rhipicephalus (Rhipicephalus) sanguineus và Rhipicephalus (Boophylus) microplus có mặt ở tất cả địa điểm khảo sát. Ve ký sinh chủ yếu trong cơ thể trăn, bò, và chó.

Ve là vật trung gian truyền bệnh của rất nhiều các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do các loại vi sinh vật và ký sinh trùng gây nên phổ biến như Sốt xuất huyết Crimean-Congo, Bệnh Lyme, Sốt hồi quy (bệnh borreliosis), Bệnh Rickettsia (sốt phát ban và sốt Q), Viêm não do ve,…

Dựa theo nghiên cứu trên họ ve (Ixodes), vi khuẩn Borrelia burgdorferi phân bố ở tỉ lệ 200/594 trong quần thể ve (đạt 37.04% trên tổng cá thể nghiên cứu) và là vi sinh vật mang mầm bệnh phổ biến nhất được mang bởi ve.

Cách ngăn ngừa bệnh Lyme

Dựa trên kết quả của nhiều nghiên cứu, hệ thống miễn dịch khỏe là vô cùng quan trọng trong việc ngăn chặn và phòng chống sự lan truyền của vi khuẩn Borrelia burgdorferi thông qua đường máu và ngăn ngừa sự phát triển của bệnh Lyme.

Nghiên cứu cho thấy sự thiếu hụt trong sản xuất kháng thể là nguyên nhân chính cho sự phát tán của xoắn khuẩn vào máu và sự thâm nhập và xâm nhiễm của vi khuẩn B. burgdorferi tại các cơ quan quan trọng. Do đó, một trong những cách ngăn ngừa bệnh Lyme hiệu quả là tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên của cơ thể chống lại tác nhân gây bệnh.

Theo nhiều nghiên cứu, một trong những phương pháp mới được áp dụng hiện nay trong điều trị và phục hồi bao gồm Liệu pháp Exosome với chức năng điều hòa miễn dịch. Dựa trên kết quả nghiên cứu, exosome được phân tách có khả năng điều hòa miễn dịch nhờ tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên và ức chế những phản ứng miễn dịch quá mức ngăn chặn tình trạng viêm mãn tính.

Tổng kết

Dựa theo đánh giá của chuyên gia, bệnh Lyme là một trong những căn bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất do ve truyền bệnh. Dựa theo đánh giá của chuyên gia, việc hiểu đúng về bệnh Lyme, triệu chứng bệnh, mức độ nguy hiểm và cách ngăn ngừa bệnh có thể giúp tăng cường hệ miễn dịch và tăng khả năng phòng chống bệnh Lyme.

Nếu quý khách có nhu cầu tư vấn các liệu pháp để tăng cường hệ miễn dịch tại các Viện Y học tái tạo hàng đầu tại CHLB Đức. Vui lòng liên hệ Hotline 09 119 10 119 hoặc đăng ký tại đây để được hỗ trợ chi tiết nhất.

Liên hệ ngay Premium Therapy để được tư vấn kỹ càng hơn về liệu trình này nhé.

CÔNG TY CP PREMIUM THERAPY – Đại diện các Trung tâm trị liệu & Bệnh viện uy tín hàng đầu CHLB Đức tại Đông Dương:

Nguồn tham khảo:

  1. Bệnh Lyme—Bệnh truyền nhiễm—Cẩm nang MSD – Phiên bản dành cho chuyên gia. (n.d.). Retrieved July 30, 2025, from https://www.msdmanuals.com/vi/professional/b%E1%BB%87nh-truy%E1%BB%81n-nhi%E1%BB%85m/xo%E1%BA%AFn-khu%E1%BA%A9n/b%E1%BB%87nh-lyme
  2. Burgdorfer, W., Hayes, S. F., & Corwin, D. (1989). Pathophysiology of the Lyme disease spirochete, Borrelia burgdorferi, in ixodid ticks. Reviews of Infectious Diseases, 11 Suppl 6, S1442-1450. https://doi.org/10.1093/clinids/11.supplement_6.s1442
  3. Bush, L. M., & Vazquez-Pertejo, M. T. (2018). Tick borne illness-Lyme disease. Disease-a-month: DM, 64(5), 195–212. https://doi.org/10.1016/j.disamonth.2018.01.007 
  4. Viện Sốt Rét – Ký Sinh Trùng – Côn Trùng Thành Phố Hồ Chí Minh. (2019). Several other medical arthropods in southern of Vietnam (Ticks, chigger mites, and gamasid mites). Nghiên cứu về côn trùng học Viện Sốt Rét – Ký Sinh Trùng – Côn Trùng Thành Phố Hồ Chí Minh. https://www.impehcm.org.vn/content/entomology/several-other-medical-arthropods-in-southern-of-vietnam-ticks-chigger-mites-and-gamasid-mites.html
  5. Exosomes: A review of biologic function, diagnostic and targeted therapy applications, and clinical trials | Journal of Biomedical Science | Full Text. (n.d.). Retrieved July 30, 2025, from https://jbiomedsci.biomedcentral.com/articles/10.1186/s12929-024-01055-0
  6. Liệu pháp Exosome tự thân & Newcell thực vật. (n.d.). Premium Therapy. Retrieved July 31, 2025, from https://premiumtherapy.vn/dich_vu/lieu-phap-exosome-tu-than-newcell-thuc-vat/